Vì sao Cộng Sản lùi hai bước?

Vì sao Cộng Sản lùi hai bước?

Bài  gửi by Hoaihuong Yesterday at 1:34 pm

—-
Một tuần lễ sau khi phải thả Luật Sư Lê Thị Công Nhân, cường quyền Cộng Sản lại quyết định “tạm tha” cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Có thể coi là họ đã chịu lùi 2 bước.

Mặc dù cô Lê Thị Công Nhân được ra khỏi cái nhà tù nhỏ vì bản án của cô hết hạn, nhưng nếu đảng Cộng Sản muốn họ vẫn có thể bịa ra bất cứ lý do nào để giữ cô trong nhà giam, như họ vẫn làm từ xưa tới nay đối với những người đòi dân chủ. Cho nên trả tự do cho cô là Cộng Sản chấp nhận một bước lùi. Còn cha Nguyễn Văn Lý thì được đưa về cho Tòa Tổng Giám Mục Huế săn sóc lấy lý do vì bị bệnh; nhưng trong thực tế ông đã lâm trọng bệnh từ lâu mà gần đây cũng không có triệu chứng nào nặng nề hơn đến nỗi không thể đem vào giam trong nhà thương của công an. Vì lý do nào mà một người bị xử án 3 lần, tổng cộng 14 năm tù, lại được đưa “về nhà” chữa bệnh? Cho nên, có thể coi việc Cộng Sản trả tự do cho cô Lê Thị Công Nhân và Linh Mục Nguyễn Văn Lý là những bước lùi bất đắc dĩ của chế độ Cộng Sản. Tại sao họ chịu lùi, và tại sao lại chịu lùi vào lúc này?
Chúng ta không thể tin là đảng Cộng Sản đã thay đổi chính sách. Không thể tin họ đã chấp nhận từ nay cho người dân Việt Nam, những người như Cha Lý và cô Công Nhân, được tranh đấu công khai cho quyền làm người và thể chế dân chủ. Ðường lối đảng Cộng Sản trước sau như một là độc tài chuyên chính, theo lời Hồ Chí Minh từ nửa thế kỷ trước.
Như vậy thì chỉ có thể giải thích là đảng Cộng Sản đã đã lùi hai bước ngay trong lúc này vì họ sợ áp lực của dư luận quốc tế. Nhưng các áp lực đó đã có từ lâu chứ không mới xẩy ra; cho nên cũng có thể là trong thực chất đảng Cộng Sản chẳng có chính sách, chủ trương nào lâu dài cả. Mọi quyết định của họ đều tùy tiện, nhất thời, do nhu cầu từng giai đoạn. Họ không có một đường lối nhất quán, trông bên ngoài thấy những hành động mâu thuẫn với nhau. Giả thuyết đáng tin nhất là đảng Cộng Sản hiện giờ có nhiều cái đầu, những cái đầu độc lập với nhau và những cánh tay không do một bộ não duy nhất chỉ huy. Các quyết định được đưa ra như thể “ngẫu nhiên,” không phải một bộ máy có người nắm quyền kiểm soát; ngược lại từ bên trong và bên ngoài có quá nhiều lực đẩy.
Những lực đẩy từ bên ngoài có thật và càng ngày càng mạnh. Những phiên xử án Linh Mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân đã gây ra những làn sóng phản đối khắp thế giới, từ phía các chính quyền cũng như các hội đoàn trong xã hội công dân. Hình ảnh bình tĩnh thản nhiên của Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân khiến cả loài người có lương tâm kính trọng, khiến người ta càng có lý do khinh thường chế độ độc tài Cộng Sản, khiến nước Việt Nam cũng bị khinh lây. Riêng Linh Mục Nguyễn Văn Lý thì bức hình của ông trong “phiên tòa bịt miệng” đã trở thành biểu tượng cho cuộc tranh đấu đòi quyền làm người của dân tộc Việt Nam hiện nay, trước sự đàn áp thô bạo của chế độ Cộng Sản.
Tháng Bảy năm ngoái, 37 vị nghị sĩ Quốc Hội Mỹ đã ký thư yêu cầu đảng Cộng Sản Việt Nam trả tự do cho ông “ngay lập tức và vô điều kiện.” Tới đầu tháng này, ông phụ tá ngoại trưởng Mỹ Kurt Compbell, lại lên tiếng yêu cầu lần nữa, khi được tin linh mục bị bệnh. Cuối tuần trước, Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế đã can thiệp yêu cầu chính phủ Mỹ xếp chính quyền Cộng Sản Việt Nam trở lại vào danh sách các chế độ vi phạm tự do tôn giáo “cần quan tâm đặc biệt.” Và trên thế giới, cộng đồng người Việt khắp nơi liên tiếp vận động các vị đại biểu Quốc Hội nơi họ sống tạo áp lực buộc chính quyền Cộng Sản phải tôn trọng quyền sống tự do dân chủ của người Việt Nam.
Những áp lực đó chắc chắn có hiệu quả; bằng cớ là đảng Cộng Sản đã phải lùi ngay hai bước trong vòng một tháng, khi họ phải trả tự do cho cô Lê Thị Công Nhân và Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Mặc dù cô Công Nhân vẫn tiếp tục bị quản thúc, và Cha Lý chỉ được “tạm trao cho Nhà Chung” để chữa bệnh; nhưng đối với Cộng Sản thì rõ ràng là nếu không bị bắt buộc không đời nào họ nhượng bộ liền hai bước như thế.
Bởi vì, khi chịu lùi hai bước, họ biết sẽ còn phải chịu thêm áp lực để lùi nữa. Hiện nay đảng Cộng Sản đang chịu rất nhiều áp lực từ các tầng lớp dân chúng sống trong nước. Phong trào các nông dân đòi đất bị chiếm đoạt chưa nguôi vì không có một cách giải quyết thỏa đáng; thì các thành phần thanh niên và trí thức đã tự biến thành những thế đối kháng trên các mặt trận truyền thông. Ðảng Cộng Sản bị tấn công tới tấp vì không bảo vệ được chủ quyền dân tộc đối với biên cương và hải phận, không bảo vệ được ngư dân đánh cá bị “hải tặc” mặc binh phục Trung Cộng đánh đập, cướp bóc. Giới trí thức Việt Nam khắp nước và khắp thế giới bầy tỏ nỗi phẫn nộ vì những vụ cho Trung Cộng khai thác bô xít, cho thuê rừng. Trong khung cảnh “tứ bề bị vây hãm, tấn công” như vậy, người suy nghĩ bình thường cũng thấy không nên trả tự do cho những người tranh đấu đối kháng mạnh bạo nhất, như Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý. Làm như vậy không khác nào thả cọp về rừng và tiếp tay cho “các lực lượng thù nghịch.”
Một cách giải thích là chế độ Cộng Sản hiện nay rất lúng túng. Trong khi thành phố Hà Nội đang kỷ niệm Một Ngàn Năm ngày Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long thì dân chúng thủ đô đã bất bình từ nhiều năm qua vì pho tượng Lý Thái Tổ ở bên bờ Hồ Hoàn Kiếm thấy rõ ràng chỉ mô phỏng hình ảnh một ông vua Tàu trong phim bộ Trung Quốc! Khác với hình ảnh những ông vua đời Lý, đời Trần mà sử sách cho biết vẫn còn giữ phong tục Việt Nam và rất gần gũi với người dân bình thường. Chưa hết, gần đây lại có tin chính quyền Cộng Sản đã đưa một đoàn quay phim sang Tàu để quay một cuốn phim về Lý Thái Tổ! Ai cho phép các cán bộ nắm đầu 10 tỉnh cho các công ty Trung Quốc thuê đất trồng rừng với hợp đồng 50 năm trong lúc cả nước đã nổi giận vì vụ khai thác bô xít? Những hành động này chỉ có thể nói là “Hết khôn, dồn ra dại!”
Những phản ứng của cô Lê Thị Công Nhân và cha Nguyễn Văn Lý cho thấy việc tạm phóng thích họ chỉ làm cho chế độ Cộng Sản bị thiệt hại thêm chứ không được lợi gì cả. Ngay khi ra khỏi tù, Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã nhắc lại một lập trường chính đáng của ông là không công nhận luật lệ của đảng Cộng Sản, không công nhận tòa án Cộng Sản, cho nên ông từ chối không chấp nhận bị coi là một “phạm nhân.” Cô Lê Thị Công Nhân cũng xác định cô cương quyết tranh đấu đến cùng cho mọi người Việt Nam được sống tự do dân chủ và cô nhất định không thỏa hiệp với cường quyền áp bức. Tất cả các nhà tranh dấu dân chủ ở Việt Nam, từ giới thanh niên tới các nhà trí thức, cả các đảng viên Cộng Sản sẽ coi đó làm gương cho họ.
Cho nên có thể kết luận rằng đảng Cộng Sản Việt Nam đã lùi hai bước liên tiếp chính vì họ không dám cưỡng lại các áp lực quốc tế. Linh Mục Nguyễn Văn Lý may mắn sống vào thời đại này, hơn 20 năm sau khi các chế độ Cộng Sản ở Âu Châu đã sụp đổ. Trước tấm gương sụp đổ đó, các công an Cộng Sản ở Việt Nam cũng không dám tự tung tự tác bạo hành như các đồng nghiệp của họ ở Âu Châu 30 năm trước. Và nhờ áp lực kinh tế của các nước tư bản cho nên những người tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam cũng không bị thủ tiêu, may mắn hơn những người Ba Lan vào giữa thập niên 1980.
vào những năm đó, chế độ Cộng Sản Ba Lan đã giải tán công đoàn độc lập Solidarnos và ra lệnh thiết quân luật. Họ bắt cóc và thủ tiêu Linh Mục Jerzy Popieluszko, là một cán bộ công đoàn. Cha Popieluszko đi trốn nhưng vẫn tổ chức mỗi tháng một buổi thánh lễ ở họ đạo St. Stanislaw, ngày càng đông người tới tham dự. Ba sĩ quan công an Cộng Sản đã bắt cóc Linh Mục Popieluszko, cùng với một người tài xế, nhưng bác tài đã nhẩy qua cửa sổ trốn thoát. Mấy ngày sau thì người ta thấy xác Linh Mục Popieluszko trên dòng sông Vistula.
Nhờ người tài xế bạn ông còn sống nên tin tức được truyền đi làm dân Ba Lan phẫn nộ, cuối cùng chế độ Cộng Sản phải đưa ba sĩ quan công an và một đại tá chỉ huy họ ra tòa và kết án tù. Phải tới 5 năm sau, khi chế độ Cộng Sản tan rã, những viên tướng trùm công an và trùm mật vụ mới bị đem ra tòa xét xử về vụ ám sát, thủ tiêu này.
Ðám công an Cộng Sản ở Việt Nam hiện nay cũng biết số phận của các đồng nghiệp Ba Lan, Ðông Ðức của họ. Cho nên trong mấy năm qua, các người tù vì lương tâm ở Việt Nam đã được đối xử một cách lịch sự, tử tế hơn. Một chế độ đang tan rã cũng giống như một chiếc tàu sắp chìm, những con chuột cũng bỏ chạy. Ðây là một cơ hội để tiếp tục đẩy mạnh việc tranh đấu đòi tự do dân chủ cho mọi người Việt Nam.


Hoaihuong
Tổng số bài gửi: 99
Points: 346
Reputation: 0
Join date: 07/01/2010
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn Gửi  email

Go down

CHUNG QUANH SỰ KIỆN CHO THUÊ KHAI THÁC RỪNG ĐẦU NGUỒN

 
CHUNG QUANH SỰ KIỆN CHO THUÊ KHAI THÁC RỪNG ĐẦU NGUỒN

Liệt Vũ
March 17, 2010

Sự kiện 10 tỉnh VN đã cho người nước ngoài mà hầu hết là tầu TC thuê mua khai thác rừng đầu nguồn ở những địa điểm quan yếu ,như tại một số tỉnh biên giới phía bắc, vùng hiểm yếu Tam Điệp, và tại vùng Tây Nguyên, xuống tới tận Bình Dương, đã được công khai hóa bởi hai thư kiến nghị của Đồng sĩ Nguyên và Nguyễn trọng Vĩnh gửi Ban Bí Thư TƯĐ/CSVN. Những tin tức tiếp theo đã khiến đặt ra nhiều câu hỏi quanh việc này.
Trước hết,việc cho thuê mua khai thác rừng này đã diễn ra từ 5 năm về trước, chứ không phải mới đây.

Qua cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 10/3/2010 với công ty InnovGreen., người ta biết rằng InnovGreen “trong 5 năm qua chỉ được giao 7000 ha đất trồng rừng”. Nhưng ngày 3/3/2010 giám đốc sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ninh lại cho báo điện tử Thanh Niên biết là tỉnh đã giao cho InnovGreen hơn 3378 ha, nghĩa là chưa bằng một nửa số đất rừng InnovGreen cho BBC biết. Tại sao người khai thác nói nhiều mà người cho khai thác nói ít? Kẻ nói dối không thể là kẻ đã nhận rừng khai thác.
Theo báo điện tử TuầnViệtnam ngày 27/2/2010, Đồng sĩ Nguyên đã nói:”tôi có thông tin chứ không phải chỉ nghe nói đâu. Sở dĩ tôi có thông tin là do anh em ở dưới tỉnh ủy  và công an họ báo lên”, và: “ở một số địa phương, công an và bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã lên tiếng ngăn cản, nhưng chính quyền vẫn ký.” Tin này ĐSN biết từ lâu mà chờ đến bây giờ, trong lúc đảng đang sắp xếp tổ chức đại hội XI mới nói, hay là bây giờ đàn em mới cho tin.? Dù sao thì câu hỏi vẫn là tại sao có khoảng yên lặng 5 năm?
Việc ĐSN và NTV cho công bố kiến nghị về vụ thuê rừng trên mạng bauxite VN là trái với quyết định 97/QĐ/TTg của NTD, trong đó đã ghi rõ: “nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước, cần phải gửi ý kiến đó cho cơ quan đảng, nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai.” ĐSN đã công khai công bố kiến nghị, thế mà lại được NTD không những mau mắn trả lời, mà lại còn tặng hoa chúc mừng sinh nhật, và trao huy hiệu 70 năm tuổi đảng. Tại sao chuyện ĐSN làm ngược quyết định chính thức này lại được bỏ qua?

Ngay sau khi nhận được kiến nghị của ĐSN và NTV, NTD đã trả lời và cử liền một phái đoàn đi kiểm tra. Bằng công văn 405/TTg/KTN, NTD đã ca ngợi lợi ích của việc cho thuê rừng bằng câu viết: “trong các năm qua, việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trong lãnh vực lâm nghiệp và môi trường thủy sản ở các địa phương, đã góp phần giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người dân lao động.”. Nhưng mặt khác, NTD đã đập luôn đám tỉnh ủy điạ phương bằng câu kế: “việc quy định cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê đất ở một số địa phương có biểu hiện chưa đúng với quy định hiện hành của nhà nước, có nơi đã cho thuê chồng lấn lên phần đất đã được giao và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình nông dân địa phương, hoặc có nơi đã cho thuê cả diện tích đất có rừng tự nhiên, quy hoạch cho các dự án thuê đất vào những vùng nhậy cảm đã phải thu hồi lại.”

NTD cũng lại còn ra lệnh UBND các tỉnh không được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới, và không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đầu tư nước ngoài trong thời gian thực hiện việc rà soát kiểm tra, đánh giá.
Câu hỏi nẩy ra là tại sao ĐSN và NTV lại không gửi thư riêng nội bộ, mà lại gửi lên mạng điện tử để công khai hoá một việc sai trái mà cấp trách nhiệm trực tiếp cao nhất là NTD  sẵn sàng sửa chữa nội bộ?
Xét những dữ kiện nêu trên, ta có thể thấy được  bản chất vụ cho thuê khai thác rừng đầu nguồn. Thư gọi là tố giác bí mật cho thuê rừng chỉ là biểu hiện của vụ tranh giành ảnh hưởng, bôi xấu lẫn nhau của các phe phái trong đảng CS trong thời gian gần tới đại hội đảng. Cũng như vụ phản đối cho khai mỏ bauxite.  Người ta còn nhớ những thư từ, bài viết qua lại, bêu xấu lẫn nhau, thời bộ ba Mười Anh Kiệt. Võ văn Kiệt được tạo hình ảnh là người cấp tiến đổi mới với sự tiết lộ lá thư gửi Bộ chính trị. Lê khả Phiêu bị tố là dâm ô, bất tài để chịu phép biết thân mà không hung hăng khi làm tổng bí thư, vân vân…
Ồn ào về bauxite như vậy, nhưng rút cuộc, thì cũng vẫn tiếp tục thực hiện. NTD ca tụng lợi ích của việc cho thuê mua rừng dài hạn là nhằm mục đích chạy tội,và chống chế cho việc sẽ vẫn tiếp tục như thế. Việc nêu ra chỉ là để đánh vào những tỉnh ủy không thuộc phe cánh. Nói 10 tỉnh cho thuê rừng đầu nguồn, nhưng chỉ nêu ra tên 9 tỉnh là sao? Phải chăng  vì bí thư tỉnh ủy thứ 10 đã nhanh chân đầu quân vào phe NTD. ĐSN khi được NTD tặng hoa sinh nhật đã bầy tỏ niềm tự hào sâu sắc về đảng và nguyện phục vụ đảng đến hơi thở cuối cùng. Cho nên có thể nói rằng ĐSN và NTV cùng băng NTD, đưa vụ cho thuê rừng ra công khai để đánh những điạ phương hiện không theo NTD.

Con số 3378 ha rừng mà giám đốc NN&PTNT đưa ra chỉ bằng nửa con số thật mà công ty InnovGreen khai ra, chỉ là một nỗ lực làm gỉảm tầm quan trọng của chuyện cho thuê rừng.  Bản chất, nó không khác tinh thần cái công văn 405/TTg/KTN của NTD, là chỉ ra sự sai trái mà NTD ở cương vị thủ tướng phải chịu trách nhiệm, nhưng đã khám phá ra, và tai hại chưa là bao nhiêu. “Thực tế đến nay các tỉnh mới quyết định cho thuê và cho phép liên doanh,liên kết được 33824ha[bằng 11,1% so diện tích dự kiến được cấp giấy chứng nhận đầu tư];trong đó diện tích đã cho thuê là 15664 ha[bằng 5,2%],và diện tích cấp phép liên doanh, liên kết giữa các nhà đầu tư với các tổ chức ,hộ gia đình, cá nhân trong nước là 18160 ha[bằng 5,7%]“.
Không người dân VN nào có khả năng hay có quyền kiểm chứng những con số này.

Tóm lại, phe cánh NTD đã dùng ĐSN và NTV khơi ra vụ 10 tỉnh cho thuê khai thác rừng đầu nguồn là để tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau trước đại hội đảng XI. Tất cả rồi sẽ đâu vào đó, như vụ biển Đông, vụ Bauxite.
 
LIỆT VŨ
http://www.tamthucviet.com/articleview.aspx?artId=%C5%B8D%1B]

Nhục hay không, hởi Việt Cộng ???

Nhục hay không, hởi Việt Cộng ???

Lá cờ đỏ sao vàng đã được đàn anh Tàu cộng thiết kế thành mẫu đồ lót năm 2009.

Còn gì để nói nữa không ? VN sẽ lên tiếng chăng ? “CHXHCNVN đã có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý để chứng minh rằng, mẫu đồ lót nữ năm này là cờ tổ quốc (Cộngsan) ? “

Đảng cộng sản việt nam có dám triệu Đại sứ Quán Trung cộng tới để “dũa” đàn anh một trận xem sao? hay là cúi đầu chịu nhục, rồi cắt nghĩa với dân Việt rằng: “Đó là nghệ thuật sáng tạo” của đàn anh Trung quốc.

HH
Khách viếng thăm

 

  

Theo dõi chủ đề

Cộng Sản Tàu, Việt rồi cũng sụp đổ

Cộng sản Liên sô và Đông Âu đã sụp đổ như vậy là đã hơn 20 năm. Từ đó có người cho rằng Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng sẽ không bao giờ sụp đổ. Có người lại nghĩ ngược lại và quả quyết rằng cộng sản Việt Nam và Trung cộng cũng sẽ sụp đổ như Liên sô và Đông Âu.

Tại sao?

Cộng sản Việt Nam và Trung cộng sẽ không sụp đổ

Có người cho rằng Cộng sản Liên Sô và Đông Âu đã sụp đổ hơn 20 năm; thêm vào đó, họ cho rằng hoàn cảnh lịch sử, con người khác nhau, biết rút tỉa kinh nghiệm quá khứ, Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng sẽ tồn tại mãi, không bao giờ sụp đổ, mặc dầu đây là 2 chế độ độc tài, đi ngược lại lòng dân.

Riêng cá nhân tôi, tôi không nghĩ như vậy, mặc dầu cách đây đã hơn 20 năm, nhưng 20 năm so với dòng dài lịch sử của một dân tộc thì không là bao. Dòng lịch sử Việt và Trung Cộng rất là dài. Dân Việt đã trải qua 1 000 năm bị đô hộ bởi Tàu, 100 năm bị đô hộ Pháp; nhưng vẫn quật cường đứng dậy để giành độc lập cho nước nhà, dẹp thù trong, để đương đầu với giặc ngoài. Ngày hôm nay chắc chắn dân tộc Việt sẽ đứng lên dẹp bọn cộng sản, tay sai của ngoại bang, để đương đầu với chính sách bành trướng của Trung Cộng, ngay dù cuộc tranh đấu này rất là khó khăn, vì Trung cộng đã mượn tay người Việt để giết người Việt, để thực hiện mộng đế bá của mình. Nhưng dân Việt vẫn sáng suốt để nhận ra điều này và can đảm đứng lên đấu tranh để sống còn. Về việc rút tỉa kinh nghiệm, người xưa có câu: “ Qua cầu mà vẫn không biết cầu dài bao nhiêu nhịp “, một thí dụ điển hình là cộng sản Việt Nam và Trung Cộng cũng đã nhìn thấy tình trạng tham nhũng của Liên Sô, cố chống tham nhũng; nhưng tham nhũng ở cả 2 nước mỗi ngày một gia tăng, chứ không giảm. Theo bản Tường trình của Cơ quan chống Tham nhũng, trụ sở ở Hồng Kông, vào năm 2009, sau khi tham khảo gần 3 000 chủ doanh nghiệp, thì Cộng sản Việt Nam đứng hàng thứ 3 lộn ngược về tham nhũng, chỉ trên Nam Dương và Căm Bốt, trong những nước Á châu.

Trung cộng cũng không khác.

Tôi tin Cộng sản Trung cộng và Việt Nam sẽ sụp đổ như Liên sô và Đông Âu vì 4 lý do sau:

1) Chế độ độc tài cộng sản cũng như chế độc tài phát xít chỉ là tàn dư của chế độ độc tài quân chủ phong kiến;

2) Sự thoái trào của Cộng sản Trung cộng và Việt Nam ngày hôm nay giống như sự thoái trào của Liên Sô và Đông Âu;

3) Nơi nào có tham nhũng, hối lộ, đàn áp, bất công, nơi đó có người dân đứng lên đấu tranh;

4) Chiến lược đánh cộng sản Trung cộng và Việt Nam hiện nay của thế giới tự do, dẫn đầu bởi Hoa kỳ, cũng giống như chiến lược đã áp dụng với Liên sô và Đông Âu.

Điềm báo cho sự sụp đổ của Liên Sô là vụ Tchernobyl. Điềm báo

cho sự sụp đổ của Trung Cộng và Việt Nam là vụ các thực phẩm và đồ dùng bị nhiễm độc

Thật vậy, Tchernobyl là một thành phố thuộc nước Cộng Hòa Ukrain ngày hôm nay, nơi có 4 nhà máy nguyên tử được Liên Sô xây vào năm 1977 và 1983. Một trong 4 nhà máy với công xuất là 1 000 mê ga wats đã bị nổ vào ngày 25/4/1986, sau khi Gorbatchev lên chức Tổng Bí Thư không lâu. Và người ta mới nhìn ra rõ tính chất lạc hậu, chậm tiến của Liên Sô, những người tới cứu không có tới một bộ áo chống chất phóng xạ. Đây là tiếng chuông báo tử đầu tiên cho chế độ.

Ngày hôm nay, người ta cũng có thể nói sửa bị nhiễm chất Mélanine, những thức ăn và đồ dùng trong nhà, sản xuất từ Trung Cộng, Việt Nam, mang chất độc, bị phát hiện trên thị trường tiêu thụ quốc tế, là tiếng chuông đầu trong hồi chuông báo tử cho Trung Cộng và Việt Nam.

Chế độ độc tài cộng sản và độc tài phát xít chỉ là tàn dư của chế độ quân chủ phong kiến. Chế độ này trước khi tàn lụi thi bùng lên ở bên phải, đó là phát xít, bùng lên ở bên trái, đó là chế độ cộng sản

Nếu chúng ta xét trong lịch sử nhân loại về 3 chế đội quân chủ phong kiến, chế độ phát xít và chế độ cộng sản, chúng ta thấy 2 chế độ sau chỉ là tàn dư của chế độ trên. Cả 3 đều là độc tài, chế độ quân chủ thì cho vua là con Trời, tất cả những thần dân phải thần phục. Hai chế độ sau chỉ là thay đổi thành quan niệm tôn thờ lãnh tụ, tôn thờ đảng. Ngày xưa thì nhà vua và triều đình không bao giời lầm. Ngày nay thì lãnh tụ và đảng không bao giờ sai.

Chế độ dộc tài phát xít và chế độ độc tài cộng sản chỉ là mặt trái mặt phải của một đồng tiền, tàn dư của chế độ phong kiến, cha truyền con nối, như ngày hôm nay chúng ta thấy rõ với chế độ cộng sản còn rơi rớt lại: anh truyền em nối ở Cu Ba, cha truyền con nối ở Bắc Hàn, ở Trung Cộng và ở Việt Nam; nếu chúng ta xem xét kỹ những nhân vật trong Bộ Chính, Trung Ương đảng Cộng sản Trung Cộng và Việt Nam, chúng ta thấy phần lớn là con ông cháu cha cán bộ cao cấp trước đây.

Nhưng trong 3 chế độ, chế độ vô danh dự, vô liêm sỉ, thấp hèn và tàn ác nhất chính là chế độ cộng sản. Chế độ phát xít cũng là chế độ độc tài, tàn ác, nhưng chế độ này không giết chính dân mình như chế độ cộng sản; và chế độ phát xít là chế độ tôn trọng quyền tư hữu, biết làm kinh tế. Chúng ta nhớ nước Ý và nước Đức dưới thời Mussolini và Hitler, cả 2 nước kinh tế đều rất mạnh. Hai chế độ phát xít và cộng sản giống nhau ở chỗ đều là độc tài cực quyền, đều tàn ác, và đều dùng thông tin tuyên truyền nhồi sọ. Ở điểm này có lẽ cộng sản bắt chước phát xít. Người ta còn nhớ câu của Goebels, Bộ trưởng Tuyên Truyền của Phát xít: “ Nếu một câu nói dù không phải là sự thật; nhưng chúng ta cứ nhắc đi, nhắc lại nhiều lần, lúc đầu dân còn bán tín, bán nghi, nhưng sau thì cho đó là sự thật.” Sau Đệ Nhị Thế Chiến, quân đội Liên Sô vào Bá Linh, không những tìm những bác học của chế độ này, mà còn tìm lấy quyển Nhật Ký của Goebels, mà theo tin tức, thì Liên Sô lấy được 9/10; nước Pháp lấy được 1/10, hiện nay đang được giữ ở Bộ Ngoại Giao Pháp, và đã được tờ báo Le Nouvel Observateur có đăng và trích dịch.

Cộng sản Việt Nam và Trung cộng ngày hôm nay vẫn còn dùng loa phóng thanh ở những góc phố, xóm làng, bắt dân nghe thông tin một chiều là như vậy.

Để lấy một hình ảnh dễ hiểu cho sự sụp đổ của chế độ phát xít và chế độ cộng sản, đó là hình ảnh một đống lửa, tiêu biểu cho chế độ quân chủ độc tài phong kiến, coi vua là con trời, cha truyền con nối. Chế độ này trước khi cáo chung vĩnh viễn, thì bùng lên ở bên phải, đó là chế độ độc tài phát xít, bùng lên ở bên trái, đó là chế độ độc tài cộng sản.

Chế độ quân chủ đã cáo chung lâu rồi ở bên Âu châu; nhưng còn dai dẳng ở bên Á châu, vì chế độ này ở Á châu được coi là độc tài, tàn ác nhất, với những hình phạt chu di tam tộc, rồi cửu tộc, với hàng ngũ hoạn quan, một hành động vô cùng phản nhân quyền. Đây cũng là một trong những lý do cắt nghĩa tại sao chế độ cộng sản đã cáo chung ở Âu châu, nhưng vẫn còn dai dẳng ở Trung Cộng và Việt Nam. Tuy nhiên 2 chế độ cộng sản này, con rơi rớt của chế độ quân chủ độc tài phong kiến, cũng không thể nào cưỡng lại được trào lưu tiến bộ của nhân loại, đó là tôn trọng nhân quyền.

Sự thóai trào của Trung Cộng và Cộng sản Việt Nam hiện nay cũng giống như Liên Sô: Tham nhũng, hối lộ, bằng cấp giả, khả năng công chức làm việc thấp kém

Nếu chúng ta nhìn vào sự thoái trào của cộng sản Liên sô, rồi so sánh với sự thoái trào của cộng sản Trung cộng và Việt Nam hiện nay, thì chúng ta thấy nó giống nhau; mặc dầu hoàn cảnh lịch sử có khác, người có khác.

Thật vậy, Brejnev, một trong những người Tổng Bí Thư quan trọng và lâu năm thứ nhì của Liên Sô, ông này khi lên cầm quyền vào năm 1964, thì hùng hổ tuyên bố là cộng sản sẽ toàn thắng trên toàn thế giới (1); nhưng đến khi chết thì than:

“ Chế độ cộng sản gì mà 1/3 xe chạy ngoài đường là ăn cắp săng của công; 1/3 bằng cấp là bằng cấp giả; công chức đến sở làn việc là đến cho có mặt, sau đó là đi coi hát hay làm việc riêng tư “, để nói về tình trạng thoái trào của Liên sô vào năm 1982, trước khi ông chết.

Nhìn vào tình trạng của Trung Cộng và Cộng sản Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy cũng không khác. Gần đây, chính Trung Ương đảng Cộng sản Trung cộng công bố một bản tường trình, theo đó, từ ngày cải cách đến nay, có 4 000 cán bộ cao cấp Trung cộng bỏ nước ra đi, mang theo 50 tỷ $. Theo ông giáo sư Jean Luc Domenach, giáo sư trường Đông phương ở Pháp, một chuyên gia về Tàu, và cũng đồng đời là giáo sư hợp tác của Trường nổi tiếng thuộc Trung Ương đảng cộng sản Tàu, đào tạo cán bộ cao cấp, tương đương với trường chính trị và hành chánh Pháp, trong một lớp cuối khóa, khoảng 30 người sinh viên, thì 15 người đứng đầu, sau khi ra trường, tìm đủ mọi cách, nào là học bổng, tu nghiệp, công tác, để sang Hoa Kỳ, 10 người còn lại thì sang Âu châu hay những nước chung quanh Á châu, chỉ còn 5 người dở nhất là ở lại Trung Cộng. Những người ra nước ngoài còn mang theo tiền bạc, tìm cách ở lại, và tìm cách chuyển tiền cho gia đình, phần nhiều là những gia đình các ông lớn. Theo ông giáo sư y khoa nổi tiếng Bernard Debré, một gia đình lớn ở Pháp, một người rất có cảm tình với Tàu, thường đi qua lại 2 nước để giúp đỡ về y khoa, thì nứơc Tàu hiện nay đang bị thối rữa ( déconfiture), từ bên trong. ( Theo báo Le Point, số 1840-1841, tháng 12/2007).

Tình trạng Cộng sản Việt Nam cũng không khá hơn, mà là còn tệ hơn.

Như vừa nói ở trên, về tham nhũng Việt Nam đứng hạng thứ 3 lộn ngược trong những nước Á châu. Cách đây không lâu, khi rời chức thủ tướng, ông Phan văn Khải có đọc một bài diễn văn trước quốc hội thú nhận nạn tham nhũng không thể khắc phục. Ông nói: “ Một thùng chở đồ di chuyển từ tỉnh Bình Dương đến hải cảng Thành phố Hồ chí Minh mắc hơn và có nguy hiểm bị mất, bị đánh cắp đồ ở trong hơn là cùng một thùng từ hải cảng TP HCM tới Singapour… Sức sản xuất lao động của một người công chức Việt Nam chỉ bằng 1/6 hay 1/7 người công chức Đài Loan, Nam Hàn hay Singapour. “ Theo bản tường trình của Ủy ban Giáo dục và Đào tạo của Quốc hội cộng sản khóa trước khóa này, thì từ năm 1976 tới 2005, chính quyền cộng sản cấp 8 600 bằng tiến sĩ, trong đó có 2 800 bằng giả, phần lớn đến từ công chức cao cấp và con ông cháu cha.

Việc con cháu gia đình các ông lớn tìm cách ra sinh sống và chuyển tiền ra nước ngoài là chuyện bình thường ở Việt Nam.

Thử hỏi một chế độ có thể ví như một cái cái cây, mà những người đứng dưới gốc, hưởng bóng mát, đó là các ông lớn, con cháu và gia đình; nay thay vì tìm cách lấy đất ở ngoài vun vào, lại tìm cách đào đất từ gốc cây chuyển ra ngoài, thì sớm muộn, cây sẽ trốc gốc, chế độ sẽ sụp đổ.

Đây là lý do thứ nhì mà tôi tin tưởng rằng chế độ Trung Cộng và Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ.

Nơi nào có tham nhũng, hối lộ, bóc lột, nơi đó có dân nổi lên đấu tranh

Tình trạng bất công, tham nhũng, hối lộ, thối rửa như vậy, tất nhiên kéo theo sự bất mãn của dân, làm dân nổi lên chống chế độ. Theo chính Lénine;

“ Nơi nào có tham nhũng, bóc lột, bất công, đàn áp, nơi đó có người dân nổi lên đấu tránh.”

Một năm trung bình, ở Trung Cộng, có khoảng 100 000 vụ dân nổi lên chống chính quyền, có những vụ xô xát đưa đến cả ngàn người bị chết và bị thương. Nếu tính trung bình, thì mỗi ngày có đến hơn 300 vụ dân nổi lên.

Ở Việt Nam, dân oan nổi lên, trí thức bất mãn chế độ mỗi ngày một đông, như chúng ta vừa thấy vụ “ xử án” những anh Trần huỳnh Duy Thức, Lê công Định, Nguyễn tiến Trung, Lê thăng Long, chị Trần khải Thanh Thủy, chị Phan thanh Nghiên.

Chiến lược đánh cộng sản của những nước tư bản, trước kia áp dụng cho Liên sô và Đông Âu, nay áp dụng cho Tàu và Việt Nam

Cũng chính Lénine vào năm 1917, khi mới vừa cướp được chính quyền, hăng say trong chiến thắng, đã tuyên bố: “ Tụi tư bản nó vừa ngu, lại vừa tham. Chúng nó biết người ta mua dây thòng lọng để treo cổ nó, thế mà chúng vẫn sản xuất và bán cho người ta.”

Từ đó đến nay đã gần một thế kỷ, người ta không thấy cộng sản treo cổ tư bản, mà người ta chỉ thấy tư bản treo cổ cộng sản, như trường hợp Liên sô và Đông Âu.

Vậy chiến lược treo cổ cộng sản là gì? Khi ký hiệp ước bình thường hóa kinh tế và thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, vào năm 1995, tổng thống Bill Clinton có tuyên bố:

“ Những hiệp ước bình thường hóa kinh tế và thương mại giữa Hoa kỳ và các nước Đông Âu đã giúp dân các nước này tìm thấy mô hình tổ chức xã hội dân chủ, tự do và kinh tế thị trường. Tôi hy vọng rằng hiệp ứơc bình thường hóa kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và Hoa kỳ cũng giúp dân tộc Việt Nam tìm thấy được mô hình tổ chức xã hội tự do, dân chủ và kinh tế thị trường như các dân tộc Đông Âu.”

Với chiến lược đánh cộng sản qua kinh tế và thương mại, người ta có thể đổi câu của Lénine thành:

“ Cộng sản nó vừa ngu và vừa tham. Nó biết rằng tư bản bán coca cola, quần jean, Mac Donald, cho nó vào tổ chức Thương mại quốc tế, để dụ chúng vào hầm sập, để giật sập chúng.Thế mà chúng vẫn mua, vẫn vào.”

Đó là 4 nguyên do chính sẽ đưa Trung Cộng và Cộng sản Việt Nam đến chỗ sụp đổ như Liên Sô và Đông Âu.

Tuy nhiên những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở 2 nước không thể khoanh tay ngồi chờ sung rụng.

“ Hãy tận nhân lực, rồi tri thiên mạng “

Thế kỷ 20 vừa qua có, những biến cố lịch sử đáng buồn; nhưng cũng có những biến cố đáng vui.

Đáng buồn đó là 2 cuộc thế chiến và sự xuất hiện 2 chế độ độc tài, độc tài phát xít và độc tài cộng sản, tàn dư của chế độ phong kiến. Chế độ độc tài phát xít đã bị cáo chung, chế độ độc tài cộng sản đã bị loại bỏ mảnh lớn nhất đó là Liên Sô và Đông Âu; nay chỉ còn 4 nước cộng sản còn lại; rồi cũng sẽ bị chung số phận như Liên sô, để nhường chỗ cho chế độ tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền. Đáng buồn đó con người đã dùng kết quả của khoa học để chế vũ khí giết người hàng loạt, tàn phá môi trường và môi sinh.

Đáng vui đó là những chế độ độc tài dù là phát xít hay cộng sản, bề ngoài có vẻ vững chắc muôn thuở, nhưng sụp đổ một sớm một chiều, như chúng ta đã thấy ở Liên Sô và Đông Âu. Cộng sản Việt Nam trước kia từng tung hô: “ Liên sô là thành trì cách mạng Cộng sản. Ngày nay của Liên Sô là ngày mai, là tương lai của Việt Nam.”

Tại sao thành trì lại sụp đổ một sớm, một chiều?

Tất nhiên có nhiều nguyên nhân. Nhưng một trong những nguyên nhân chính đó là:

Ước vọng thầm kín của bất cứ người dân nào sống dưới những chế độ độc đóan, độc tài, vẫn là làm sao được có tự do, dân chủ, vẫn cố gắng tìm kiếm những tin tức trung thực từ bên ngoài. Niềm ước vọng này đã trở thành những sợi dây vô hình, nối kết những người dân với nhau, những dân tộc, những nền văn minh, văn hóa với nhau, chỉ chờ dịp để lật đổ độc tài.

Vì tự do, dân chủ chính là mảnh đất mầu mở để cho con người nẩy mầm và phát triển, trái hẳn với độc tài tiêu diệt khả năng phát triển, phát minh, sáng kiến của con người.

Vì tự do, dân chủ chính là mô hình tổ chức xã hội đi đúng đà tiến bộ của văn minh nhân loại, trái với độc tài đi ngược lại bánh xe tiến bộ của văn minh nhân loại.

Vì vậy bất cứ một chế độ độc tài nào, dù là độc tài Cộng sản Trung cộng, hay độc tài cộng sản Việt Nam, cũng sẽ bị xu hướng tiến bộ của văn minh nhân loại đào thải.

TRUY TỐ TỘI ÁC CỘNG SẢN

TRUY TỐ TỘI ÁC CỘNG SẢN

Bài  gửi by Admin on Thu 4 Mar 2010 – 13:38

Kính thưa quý vị Thân Hữu .
Như đã có lần; chúng tôi đề cập tới vấn đề thu nhập những tài liệu, hình ảnh liên quan đến vụ thảm sát đồng bào Huế và vụ án Mậu Thân . Để tố cáo trước Toà Án Quốc Tế.
Thay mặt Ban điều hành diễn đàn. Xin giới thiệu với quý thân hữu

UB Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam
11659 Jones Road, MPB102
Houston, TX. 77070
626-257-1057.
Email:
nguyenphuclienthanh@gmail.com

Quý vị cũng có thể gởi tài liệu và hình ảnh về cho chúng tôi:

Email : vietnamtheky@yahoo.com
hoặc : ddinh.quoc@gmail.com;

Trân Trọng

BIỂN ĐÔNG NỔI SÓNG

Trong
lịch sử biển Đông luôn luôn là một vùng liên quan tới kinh tế và quân
sự của thế giới. Biển Đông cũng đang là điạ bàn tranh chấp chủ quyền
một số đảo của các quốc gia chung quanh gồm có Việt Nam,Trung quốc, Mã
Lai, Phi luật Tân,Tân gia Ba, Đài Loan và Brunei.

Trong cuộc tranh chấp này, mỗi khi gặp trường hợp bất lợi, TQ luôn luôn
đưa ra chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”, nghe rất êm tai
nhưng thực chất chỉ có lợi cho TQ. Điển hình là tại cuộc hội thảo quốc
tế với chủ đề “Biển Đông: tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển
trong khu vực” tổ chức tại Hà Nội ngày 26-27/11/2009, phía TQ cũng lập
lại khẫu hiệu “gác tranh chấp cùng khai thác” với những đề nghị để
Trung quốc hoàn toàn giữ thế ăn trên ngồi trốc. Trong một bài viêt trên
trang điện
tử Tuần Việt Nam ngày 21/1/2010 nhan đề “Gác tranh chấp cùng khai thác
kiểu TQ” tác giả Dương Danh Huy đã vạch rõ rằng “VN và TQ bàn về khả
năng cùng khai thác bãi Tu Chính, một khu vực nằm gần như hoàn toàn bên
trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ lãnh thổ không bị tranh chấp
của VN, không thuộc quần đảo Trường Sa vốn đang trong tình trạng tranh
chấp chủ quyền ;trong khi đó,chủ trương gác tranh chấp cùng khai thác
của TQ không bao gồm quần đảo Hoàng Sa,nơi TQ đang chiếm đóng.Thậm chí,
TQ còn cho rằng không tồn tại tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo
Hoàng Sa.”

Biển Đông mà TQ gọi là Nam Hải, trước năm 1950 không có vấn đề tranh
chấp chủ quyền, chẳng có ai quan tâm. Hàng ngày chỉ có ngư dân VN tới
lui săn bắt đánh cá; đôi khi ghé vào HS hay TS nghỉ ngơi, hoặc trốn
tránh bão táp.Năm 1970 khi các công ty Exxon, Mobyl Oil, Shell và các
nhóm chuyên viên thăm dò địa chất của Hoa Kỳ khám phá dưới lòng đại
dương khu vực này có nhiều túi dầu với trữ lượng lớn, nghĩa là những mỏ
vàng đen vĩ đại,lúc đó lập tức mấy nước chung quanh là TQ, PLT, Đài
Loan, Mã lai… lên tiếng dành chủ quyền với những chứng cớ mơ hồ hoặc
ngụy tạo. TQ lớn lối nhất. Năm 1976 TQ vẽ bản đồ, ấn định biên giới
trên đất trên biển.Biên giới lãnh hải TQ vẽ bằng đường 9 khúc, hình
lưỡi bò, chạy dọc sát bờ biển VN, xuống tới tận Mã Lai, Tân gia Ba, Phi
luật Tân, lên tới Nhật Bản; hầu như không nước nào còn biển nữa.

TQ đã in sách giáo khoa về lãnh hải này để dạy học sinh; và cũng in
nhiều tài liệu về lãnh hải phổ biến khắp thế giới. NB và PLT cảnh cáo TQ
ngay lập tức. TQ im lặng.


Đảo Shenkaku, TQ gọi là Điểu ngư Đài, nằm trong vùng biển giữa TQ và NB,
đang do NB chiếm giữ,TQ lên tiếng dành chủ quyền. Hai bên tranh chấp
nhiều năm. Ngày 25/10/1978 Đặng tiểu Bình qua NB, đề nghị với thủ tướng
NB Takeo Fukuda: Gác tranh chấp Shenkaku, NB đồng ý. Ngày 11/5/1979 Đặng
tiểu Bình đề nghị TQ và NB cùng khai thác Shenkaku và vùng biển lân
cận. NB dứt khoát khước từ. Tương tự, tháng 4/1988, TQ đề nghị với Tổng
thống PLT Corazon Aquino là hai nước gác tranh chấp cùng khai thác
chung Trường Sa và vùng Scarborough Shoal. Phi đồng ý gác tranh chấp,
nhưng bác bỏ việc khai thác chung . Nay TQ lại chơi trò quỷ quái đó với
VN. CSVN đã không dám có thái độ đối
với TQ như Nhật Bản và Phi luật Tân!

Trường Sa [Spratly Islands] TQ gọi là Nam Sa, gồm 148 đảo lớn nhỏ. Vị
trí đảo ở bắc vĩ tuyến 8 độ 38 và đông kinh tuyến 111 độ 55. Về mặt địa
dư, VN, ML, PLT, Brunei đều gần TS, còn TQ ở xa xôi hơn rất nhiều,
nhưng lại vẫn đòi dành chủ quyền. Chứng tích lịch sử VN đã cho thấy ngư
dân và thủy quân VN đã thường xuyên hoạt động ở vùng quần đảo này từ
thế kỷ 17, vậy mà khi TC ngăn cấm và sát hại ngư dân VN đánh bắt cá ở
khu vực này, CSVN tuyệt nhiên không có một hành động cụ thể và hữu
hiệu nào để bảo vệ chủ quyền và ngư dân VN , mà chỉ lập lại như con vẹt
mấy lời phản đối suông giống nhau trăm lần như một.

Hoàng Sa [Paracel Islands] gồm 30 đảo [cổ thư VN ghi là 130 đảo]ở tọa độ
bắc vỹ tuyến 15độ45-17độ15 và đông kinh tuyến 111độ00-113độ00. Khoảng
cách gần VN nhất là 123 hải lý. Khoảng cách gần TQ [Hải Nam] nhất là
140 hải lý và cách đại lục TQ là 235 hải lý. Khoảng cách gần PLT nhát
là 320 hải lý.

- Xét về mặt địa lý, HS gần VN nhất : chủ quyền thuộc về VN.

- Xét về mặt pháp lý,theo công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp
Quốc: hải phận quốc phòng là 12 hải lý; hải phận kinh tế là 200 hải lý
cho các nước liên hệ có khoảng cách đảo trên 400 hải lý. Nếu khoảng cách
ngắn hơn, thì chia đôi lấy trung tuyến chính là hải giới. Tất cả những
điều này cho thấy HS thuộc chủ quyền của VN.

- Xét về lịch sử, khi chưa có người nước nào tới đảo HS, đầu thế kỷ 17
chúa Nguyễn đã tổ chức đội HS và Bắc Hải trấn đóng HS. Năm 1686 thượng
thư Đỗ Bá Công đã soạn bộ Thiên Nam Tử Chí Lộ Đồ Thư, trong đó có vẽ cả
bản đồ, xác nhận An Nam khai thác HS. Năm 1835 vua Minh Mạng cho xây
đề, bia đá, trồng cây trên đảo; và cử đội HS và Bắc Hải tuần tiễu và
khai thác HS.

- Hiệp ước Pháp-Thanh ấn định biên giới VN-TQ và HS thuộc VN.

Tóm
lại, tất cả các chứng liệu đều xác định VN được chủ quyền HS, trừ có
Phạm Văn Đồng năm 1958 thay mặt đảng và nhà nước CSVN gửi công hàm đồng
ý với quan điểm của TC. Hoàng Sa VC há miệng mắc quai tạm để tội đó.
Trường Sa đang tranh chấp mà gác sang bên tính sau thì
tạm nghe được, nhưng gác sang bên mà cùng khai thác thì chẳng khác gì
là công nhận quyền xử dụng của TC. Không có danh nghĩa là chủ nhân,
nhưng mà khai thác, xử dụng tự nhiên thì có khác gì làm chủ? hỡi mấy
nhà lãnh đạo tự nhận là đỉnh cao trí tuệ loài người được Hồ chí Minh
đào luyện?

Nguyễn
Vĩnh Huy

http://www.tamthucviet.com/articleview.aspx?artId=%C5%B8D%18P

Đường tranh đấu: Tìm lãnh tụ hay tìm đồng hành?

Đường tranh đấu: Tìm lãnh tụ hay tìm đồng hành?

Post by Hoang Lien Son 1 on Mon Mar 01, 2010 10:19 pm

Gần đây, các sự kiện trên chính trường Việt Nam dồn dập diễn ra, khiến các bạn trẻ cả trong và ngoài nước trên các diễn đàn ảo (ví dụ X-cafevn và Dân Luận) cũng sôi nổi bàn tán, một dấu hiệu rất tốt cho tiến trình dân chủ hoá quê hương. Các bạn hăng say bàn thảo làm thế nào để tìm ra (?) một lãnh tụ siêu việt dẫn đạo cuộc đấu tranh sẽ rất mãnh liệt trong những ngày sắp tới? Chúng tôi xin được chia sẻ với các bạn các ý tưởng như sau, hy vọng chúng ta cùng tìm ra một giải pháp ngắn nhất, đỡ tốn xương máu và tối ưu nhất cho đất nước hôm nay.

Trong bất kỳ một cuộc tranh đấu nào cũng cần phải có tổ chức mới đấu tranh hữu hiệu được. Quan trọng nhất của tổ chức là nhân sự. Nhân sự tạo ra tổ chức. Cương lĩnh, đường lối, mục tiêu, phương tiện… cũng từ những nhân sự trong tổ chức mà thành. Không tổ chức, chúng ta chỉ là một nhóm ô hợp mạnh ai nấy làm, không hiệu quả lại rất dễ bị bẻ gẫy.

Nhưng có cần phải có một “lãnh tụ siêu việt” như kiểu Lê Nin của Nga, Mao của Trung Cộng, Nappoleon của Pháp, Hitler của Đức hay HCM của VN không? Theo sự hiểu biết thông thường từ xưa tới nay, đó là một điều cần thiết.

Từ năm bẩy chục năm trở về trước, thông tin tới được quảng đại quần chúng khá chậm vì nhiều lý do: Kỹ thuật thô sơ lại tốn kém; hệ thống phát hành chậm chạp, bất tiện; phương tiện truyền thông cũng chưa tiến bộ nhiều; radio, TV còn là món hàng xa xỉ với nhiều gia đình v.v… Chính vì thiếu thông tin nên người nào thông minh lanh lợi, sáng giá hơn đám đông hoặc trong một tổ chức nào đó thì dễ được tôn lên làm lãnh tụ. Tiếng nói của họ rất nặng ký và thường có tính cách quyết định.

Nhưng từ những thập niên gần đây, công nghệ, kỹ thuật tiến triển vượt bực nên giá thành của hàng hoá giảm mạnh, đa số mọi người đều có khả năng sắm TV, gắn cable, hoà vào mạng thế giới v.v…

Đặc biệt với sự ra đời của máy vi tính cá nhân, cộng thêm mạng lưới toàn cầu khiến thông tin được cập nhật từng giây, từng phút, biến cả thế giới thành ngôi làng nhỏ bé. Ai cũng có thể có thông tin nhặm lẹ và chính xác, tạo ra những thay đổi lớn lao trong đời sống xã hội. Chỉ cần gõ vài chữ và nhấp chú chuột điện tử là hàng triệu dữ liệu được tải xuống trong chớp mắt. Sự hiểu biết của con người vì thế càng thêm phong phú và đa dạng. Dân chúng trong các quốc gia đằng sau những bức màn tre, màn sắt hoặc trong các chế độ độc tài cũng có thể đến với mạng toàn cầu dễ dàng. Nhà cầm quyền, dù với phương tiện và nhân sự dồi dào cũng rất khó kiểm soát mạng lưới này.

Khi cả xã hội tìm đến mọi loại thông tin thoải mái thì ai cũng có thể gia tăng kiến thức và cập nhật thông tin hàng ngày, giúp mọi người nhìn đời bao dung, cởi mở hơn, với những cơ hội học hỏi thường xuyên hơn. Dân trí, nhờ vậy, sẽ được nâng cao hơn.

Vì sự hiểu biết của xã hội nói chung đều tiến bộ, sự cách biệt về tri thức tổng quát không cao. Nhờ vậy, giảm bớt được rất nhiều những mánh khoé lừa đảo, khoe mẽ kiến thức để đoạt quyền hành. Người ta thường hay nói trong đám mù thằng chột làm vua. Đây là trường hợp thường xẩy ra trong quá khứ khi sự truy tìm kiến thức và thông tin không dễ. Nhiều trường hợp các gia đình khá giả phải cho con đi du học mới mong có được sự học hỏi “hơn người,” tạo nấc thang leo lên đà danh vọng.

Ngày nay, những âm mưu lừa bịp quần chúng khó khăn hơn xưa nhiều vì ai cũng có thể dễ dàng kiểm chứng lại từ nhiều nguồn, nhiều phương tiện thông tin khác nhau. Những dạng thông tin kiểu HCM được nhân viên tình báo Mỹ tặng một vài khẩu súng lục mà đã tuyên bố nhặng xị rằng được chính quyền HK ủng hộ, hoặc ông có connection với HK khiến các cán bộ cao cấp cũng tin ông như thánh phán; hay ông đã có vợ chính thức là Tăng Tuyết Minh người Hoa, bồ bịch cả tá, cuỗm luôn cả hôn thê đồng chí (Nguyễn Thị Minh Khai – Lê Hồng Phong) mà đảng vẫn phong-thánh-đồng-trinh, suốt đời tận tụy vì dân vì nước; hoặc vì bất kỳ động cơ nào mà tự mình bốc thơm mình (bác Trần Dân Tiên viết sách khen bác Minh) đều bị lòi tẩy dễ dàng, không cần đợi vài ba chục năm sau thiên hạ mới biết.

Ở thế kỷ trước, những quốc gia bị thực dân hoặc cs cai trị, các người tranh đấu cho độc lập dân tộc rất dễ bị thủ tiêu. Hình thức đấu tranh thường là phải bí mật hoặc bán công khai, tránh không để lộ cơ sở hoạt động để bảo toàn lực lượng tối đa. Thêm nữa, kỹ thuật ở đầu thế kỷ 20 còn thô sơ, truyền thông đưa tin tức đến quảng đại quần chúng tương đối khó khăn và chậm chạp, hình ảnh một lãnh tụ siêu việt, một vĩ nhân cứu nước hoặc đứng đầu phong trào có thể là quan trọng để mọi người nhìn vào như biểu tượng của cuộc đấu tranh, quy tụ chung quanh tổ chức của nhân vật này hầu đạt mục đích cuối cùng.

Sự đánh bóng lãnh tụ có khi là một nhu cầu cần thiết trong bối cảnh đó.

Nếu lãnh tụ hoặc tổ chức sử dụng đường lối “vương đạo” thì không nói làm gì. Nếu đó là bá đạo, thà giết lầm hơn bỏ sót, cứu cánh biện minh cho phương tiện v.v.. thì quả là một thảm họa cho dân tộc. Những gì đã hoặc đang xảy ra ở Liên Xô, Đức Quốc Xã, Cam Bốt, Tàu, VN… do những lãnh tụ ma lanh cầm đầu còn được tô son trát phấn tuyên truyền thì hậu quả phải khủng khiếp.

Ngày nay, thế giới đã thay đổi rất nhiều so với thế kỷ trước, đã và đang đi vào chiều hướng kết khối và toàn cầu hoá. Những hình thức sinh hoạt trong xã hội từ quản trị xí nghiệp, hội đoàn, đến đấu tranh giành quyền lợi, hoặc trị nước an dân cũng thay đổi triệt để. Không còn cảnh một lãnh tụ vĩ đại được thần thánh hoá hầu dẫn đạo đất nước mà là sự lãnh đạo theo dạng thức hạt nhân và hình xoáy trôn ốc từ dưới lên, thay thế cho hình kim tự tháp hàng dọc và từ trên đi xuống.

Tất cả mọi ý kiến đưa ra đều được tôn trọng như nhau, được bàn thảo công khai và kỹ lưỡng trước khi chọn lấy giải pháp tối ưu cho xí nghiệp, tổ chức hay đất nước.

Do vậy, cuộc đấu tranh hôm nay không cần thiết phải có một lãnh tụ theo kiểu trên thông thiên văn dưới tỏ địa lý nữa, mà mọi ban ngành đều được chuyên môn hoá, có hàng trăm cố vấn và chuyên viên cùng làm việc. Nhân vật lãnh đạo thường chỉ đóng vai trò tượng trưng hoặc mang tính điều hợp, hơn là có tiếng nói quyết định.

Chính vì những lý do trên, thanh niên phải lo tìm những người đồng hành, có cùng chí hướng mà gom lại hoạt động, với trái tim nồng nàn yêu nước trong sáng, cộng với tinh thần dân tộc dẫn đạo cho cuộc đấu tranh hiện nay.

Với đầu óc cởi mở và cái nhìn bao dung, thanh niên sinh viên, trí thức tuổi trẻ trong và ngoài nước, trong và ngoài đảng, chúng ta có thể dễ dàng ngồi lại với nhau, dám can đảm gạt bỏ những dị biệt nhỏ để tìm mẫu số chung lớn mà tranh đấu giành lại quyền tự quyết và sinh mệnh chính trị cho toàn dân. Công cuộc dân chủ hoá đất nước không hẳn do một bộ phận riêng lẻ nào mà hoàn thành nổi. Cần có sự góp sức của toàn thể con dân Việt.

Chúng ta thuộc “thế hệ bản lề”, một rưỡi và thế hệ thứ hai, ít bị dằn vặt nặng nề của quá khứ Quốc – Cộng như lớp cha anh, nên hãy hướng đến tương lai rạng rỡ của đất nước mà hành động. Hãy nhìn nhau bằng cặp mắt tin yêu và trìu mến. Hãy nhìn người mà học lấy cái hay của nhân loại. Rồi nhìn lại nhau hỏi rằng bao giờ thì mình bắt kịp, mình hà hơi vào được gáy Đài, Hàn, Sing? Chừng nào thì chuẩn bị bóp còi qua mặt họ để tiếp tục hà hơi vào gáy Úc, Canada, Nhật Bản? Rồi còn tiếp tục hà hơi vào gáy ai sau đó nữa chứ? Cuộc đời luôn có sẵn những mục tiêu để chúng ta theo đuổi. Đây không phải là một mơ ước viển vông. Cứ nhìn vào những nước trong G-7 thì thấy VN có đủ điều kiện để thành một cường quốc. VN có nhân lực, có tài nguyên hơn nhiều nước khác, chất xám cũng có thể tạm đủ và có cả một “hậu phương hải ngoại” lớn mạnh, với phương tiện và mối dây liên hệ quốc tế dồi dào. Nhưng tại sao chúng ta phải để quê hương dậm chân tại chỗ mãi? Chỉ cần một chính quyền thương dân, biết cùng dân bàn bạc phương cách thiết kế đời sống xã hội cho hợp với tình tự dân tộc và xu thế thời đại, lo gì mà VN không cất cánh nổi, lo gì mà chúng ta không vươn vai Phù Đồng lớn lên?

Hãy thông cảm cho những bạn trẻ trong nước, vì miếng cơm manh áo, vì sống trong môi trường hiện tại mà họ đành phải là “đối thủ” của chúng ta; đành phải nuốt lệ mà đánh phá những trang mạng của chúng ta. Họ cũng đau lòng lắm, nhưng không biết sao hơn được. Cũng chỉ vì nợ áo cơm mà thôi. Đây là những hệ luỵ và nhiễu nhương của lịch sử. Thanh niên và trí thức phải cố gắng dẹp bỏ những rào cản này càng sớm càng tốt. Dân tộc không muốn chúng ta là đối thủ của nhau, càng không muốn thấy chúng ta chém giết nhau như các thế hệ quá khứ.

Vì tình nghỉa đồng bào, chúng ta có thể vận động họ về phe với ta. Họ cần ở nơi ta một tình cảm trong sáng và bao dung, khiến họ không ngần ngại đưa tay ra bắt. Thế hệ chúng ta phải ngồi lại được với nhau, phải giỏi hơn cha anh và không được phép thất bại. Thất bại nếu có, là do chúng ta tị hiềm, ganh ghét, xua đuổi, chà đạp lên nhau mà thôi.

Thưa các bạn trẻ và trí thức quốc nội, chúng tôi mơ ước được dàn trải tình thương đến các bạn. Chúng tôi chỉ muốn được bay về nhìn vào mắt các bạn, được kề bên và đồng hành với các bạn. Chúng ta cần có nhau, cần sưởi ấm cho nhau sau những đêm dài lạnh lẽo buốt giá của dân tộc vừa qua. Chúng tôi biết lòng các bạn cũng tan nát, cũng trĩu nặng như chúng tôi. Hãy đến với nhau bằng nụ cười tin yêu và thân thiện. Xin hãy giơ tay ra cho chúng tôi nắm chặt, cùng nhau tiến bước, đưa cả dân tộc thoát khỏi tụt hậu tăm tối đã quá lâu.

Chúng ta cũng còn phải trân trọng, tôn kính các bậc trưởng thượng, của cả hai bên. Lớp cha anh cũng có những nỗi đau riêng mà họ ấp ủ. Hãy tôn trọng những niềm đau đó. Xin đừng khơi thêm nữa. Hãy để những vết thương lòng dịu đi và mau được chữa lành. Mỗi thế hệ đều có những khó khăn, gập ghềnh cần phải lấp bằng. Hy vọng mọi người cùng giải quyết trong tình thương yêu và tha thứ. Họ mong ước chúng ta thành công chứ không thất bại như thế hệ của họ. Các bậc cha anh là những lời khuyên, sự dạy bảo và kinh nghiệm vàng ngọc để chúng ta học hỏi. Rồi còn phải trao truyền cho lớp đàn em, để họ tiếp nối nếu chúng ta chưa thành công.

Hãy luôn nhận ra nhau trong tình nghĩa đồng bào, cùng chung bọc mẹ trăm con. Hãy nhìn vào điều hay của nhau mà học hỏi. Có muốn xây dựng, cũng hãy phê bình tích cực, mong cho nhau được tốt hơn, giỏi hơn, thi đua coi ai, nhóm nào, tổ chức nào đóng góp nhiều hơn cho đất nước, chứ đừng đạp lên nhau mà tiến lên. Có khá lắm cũng chỉ được một vài đại vận. Rồi cũng nhắm mắt xuôi tay, xuống mồ mà xú danh bị đời nguyền rủa. Hỏi có yên lòng nơi chín suối được không? Có “đầu thai” hay “lên thiên đàng” nổi không? Có đường hoàng đi gặp tổ tiên hay không?

Đây không còn là lúc nguyền rủa quá khứ, phân cách “địch ta” mà phải sáng suốt nhận định, con đường nào là ngắn nhất, giảm thiểu máu xương nhất cho dân tộc nhằm đạt đến mục tiêu chung. Làm thế nào để học hỏi tiền nhân, tổng hợp được toàn lực, động viên được mọi tầng lớp nhân dân, bất kể trai gái, già trẻ, tôn giáo, chính kiến… ráng sức đẩy nhanh bánh xe lịch sử đến thành công mỹ mãn.

Chúng ta hãy nghiêm túc suy tư, thảo luận và khẩn trương siết chặt tay nhau lên đường.

Tổ quốc và dân tộc không nhẫn nại chờ đợi chúng ta lâu hơn được nữa.

Xin hẹn gặp lại các bạn thân thương của tôi, ở cả hai phía, trên bước đường đấu tranh cho quê hương và dân tộc, bạn nhé.

@ Tạ Dzu

CHUNG DA BAN NUOC

Các lãnh tụ Cộng sản là những con buôn không cần vốn. Vốn của họ, nếu có, chỉ là nước bọt. Sử dụng thứ chủ nghĩa Mác-Lê đầy lừa mị, khai thác triệt để các bất công mà xã hội nào cũng có, trưng chiêu bài “đấu tranh cho dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc“, trân tráo uốn lưỡi hứa hẹn “những ngày mai ca hát”, “một xã hội không còn cảnh người bóc lột người“, trong đó “ai nấy theo khả năng mà làm, theo nhu cầu mà hưởng”, họ đã quyến rũ được khối quần chúng công nhân hay nông dân vô sản ít học (và cũng không ít trí thức dại khờ hay tham vọng) đi theo làm “cách mạng” lật đổ chế độ cũ, xóa sạch nhiều chính quyền, để xây nên một chế độ mới, thiết lập một chính quyền mới mà trong đó họ trở thành những ông vua chưa từng có trong lịch sử.

Chưa từng có bởi lẽ họ vừa ngồi trên ngai thống trị chẳng cần ai bầu lên và chẳng sợ ai chất vấn, vừa ra luật cho mình sở hữu toàn bộ tài sản đất nước (dưới mỹ từ “quản lý thay cho toàn dân“), vừa kiểm soát được mọi tâm tư, tình cảm và hành động của quốc dân vốn đã bị biến thành bầy nô lệ. Có lúc chơi ngon, họ còn bán trời không văn tự, như qua công hàm Phạm Văn Đồng dâng cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Trường Sa do Việt Nam Cộng hòa quản lý, vơ cả những đồng bào đã chạy trốn họ, đã bị họ gọi là “ma cô đĩ điếm, ôm chân đế quốc, ham bơ thừa sữa cặn tư bản”, làm thành “khúc ruột ngàn dặm thân thương”, “một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc”, chẳng được quyền chống lại họ, một phải góp phần củng cố chế độ ác ôn mà họ đang duy trì .


Chính với não trạng coi mình là những ông chủ tuyệt đối uy quyền (dù miệng luôn leo lẻo là “đầy tớ nhân dân“), chẳng cần hỏi ý kiến ai (dù có dựng lên cả một cơ chế để lấy ý kiến mang tên “Quốc hội”), chẳng sợ trách nhiệm trước ai, trả lẽ với ai, trình bày cho ai, các lãnh tụ CSVN, kể từ Hồ Chí Minh, đã bình thản dâng đất, dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp, bá quyền Bắc phương, quan anh Ba Tàu để củng cố và bảo vệ chiếc ghế quyền lực.



Giang sơn mà “vua Hùng và bao thế hệ đã có công dựng, nay Bác và lũ cháu đồng đảng đã cùng nhau… nhờ Trung Cộng giữ giùm”! Ải Nam quan, Thác Bản Giốc, gần cả ngàn km vuông lãnh thổ vùng biên giới, rồi chục ngàn km vuông lãnh hải thuộc Biển Đông, cả trăm đảo lớn nhỏ thuộc Hoàng Trường Sa lần lượt rơi vào tay Anh Cả Đỏ trong thế kỷ XX qua những hiệp định mờ ám, bất chấp xương máu của bao chiến sĩ và phản kháng của bao con dân.



Đến đầu thế kỷ XXI, vùng đất chiến lược Tây Nguyên, thắt lưng đất nước, lại ngon ơ dâng cho Đại Đồng Chí qua dự án khai thác bauxite, bất chấp cảnh báo của bao tướng lĩnh, phê phán của bao nhà khoa học và chống đối của bao đồng bào. Biển Đông, nguồn gốc và nguồn sống của dòng giống Lạc Hồng, ngày càng bị thu hẹp, mưu sinh của ngư dân Việt ngày càng khó khăn và nguy hiểm, thủy sản và khoáng sản (trên biển) của Tổ quốc ngày càng vơi cạn hay khó khai thác, hải lộ của Quốc gia ngày càng bị kiểm soát và đe dọa…



Trên đất liền thì Trung Cộng xâm lăng về kinh tế (tuôn tràn hàng hóa với giá cả rẻ nhưng phẩm chất kém, thắng thầu các dự án xây dựng nhà máy, khai thác nguyên liệu, giết chết vô số công ty, xí nghiệp, sản phẩm địa phương…), xâm lăng về văn hóa (phim Tàu, nhạc Tàu, tiếng Tàu, triết Tàu, hình ảnh Tàu tràn ngập…, trẻ em thuộc sử Việt không bằng sử Tàu…), xâm lăng về dân số (dân Tàu, làng Tàu, khu vực Tàu, con lai Tàu xuất hiện khắp nơi, từ Nam chí Bắc…), xâm lăng về chính trị (điệp viên Tàu, tay sai Tàu có mặt trong nhiều tổ chức quan trọng của đảng, quân đội, công an, nhà nước…. ai phê phán hay chống đối Tàu, dù dưới bất cứ hình thức nào, đều bị trừng trị thẳng tay… luận điệu Tàu, lập trường Tàu được bày tỏ trên chính các trang mạng của nhà nước và đảng). Tất cả chỉ vì sự khiếp nhược đê hèn, nếu không muốn nói là sự đồng lõa tội lỗi của hàng lãnh đạo CSVN.

Và người ta những tưởng như thế là đủ các mặt xâm lăng của Trung Cộng, các mặt nhượng bộ của Việt Cộng rồi. Đùng một cái, bức thư tố cáo của hai tướng CS là Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh hôm 22-01 làm cho tất cả cộng đồng người Việt trong lẫn ngoài nước giật mình kinh hoảng.



Hai ông viết:



Theo chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương… Kết quả cho thấy 10 tỉnh đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới“.



Tiếp đó hai ông cảnh báo cách mạnh mẽ: “Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.



Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp.



Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao? Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo.



Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng“.

Gần tháng sau, ngày 20-02, một nhà khoa học địa chất là Vũ Ngọc Tiến, lại nêu lên một nguy cơ khác: thất thoát tài nguyên khoáng sản. Ông cho biết: Các vùng Việt Bắc, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Điện Biên, Kon Tum -theo các nhà khoa học Pháp, Nga, Việt- đều giàu kim loại màu và kim loại quý hiếm, thậm chí có cả uranium.



Trước năm 1986, quy trình bảo mật của ngành địa chất đối với các mỏ quặng loại này vô cùng nghiêm ngặt. Thế nhưng kể từ khi bắt đầu đổi mới (1986), các quy định về bảo mật tài nguyên bị xâm phạm nghiêm trọng. Các tỉnh đua nhau mời chuyên gia địa chất đo vẽ bản đồ địa chất–khoáng sản cho riêng địa phương mình mà thực chất và chủ yếu là sao chụp lại tài liệu trong lưu trữ quốc gia… Đây là kẽ hở chết người dẫn đến tệ nạn “khai thác thổ phỉ” tại các mỏ quặng diễn ra kéo dài và phổ biến khắp nơi, không loại trừ khả năng bí mật về khoáng sản ở các tỉnh biên giới cũng theo đó mà lọt vào tay người nước lạ! Tôi ngờ rằng, trong 264 ngàn ha rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới đã cho người nước lạ thuê kia không chỉ có gỗ mà còn có cả khoáng sản và đó mới là mục đích sâu sa, thâm hiểm của ông bạn nước lạ“.

Trước những những lời tố cáo của hai “tướng về hưu” và nhà khoa học nói trên, giới lãnh đạo cao cấp đảng Cộng Sản và bộ máy chính quyền trung ương, như thường lệ, chẳng buồn đáp lại. Giống như họ từng tỏ ra khinh khỉnh, bỏ qua không thèm trả lời mấy ngàn nhà trí thức phản đối vụ Bauxite.



Cho tới nay, người ta chỉ mới thấy phản ứng của các lãnh đạo CS địa phương. Chẳng hạn ông Đào Đức Hoan, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Lạng Sơn, đã bác bỏ quan ngại về nguy cơ “mất rừng”. Ông ta nói với BBC ngày 22-02 rằng khi cấp phép cho các dự án, chính quyền địa phương đã cân nhắc kỹ lưỡng “vì lợi ích chung của cộng đồng, vì sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và quốc gia”.



Ông Lý Vinh Quang, Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư Lạng Sơn, thì khẳng định rằng đất giao cho chủ đầu tư nước ngoài hoàn toàn là “rừng sản xuất chứ không phải rừng phòng hộ” và “không có mua bán đất đai, chuyển nhượng sở hữu mà chỉ có cho thuê”. Ông cũng nói cơ quan Tài nguyên-Môi trường tỉnh có cơ chế để giám sát các dự án sao cho bảo đảm về môi trường lâu dài và việc cho thuê đất được thực hiện theo đúng quy trình quy định của Nhà nước.



Cuối cùng ông ta bác bỏ quan ngại về yếu tố Trung Quốc trong các dự án, với lý do rằng quá trình thẩm định không phân biệt nhà đầu tư đến từ nước nào.



Đây là luận điệu lưỡi gỗ và lường gạt của hầu hết các lãnh đạo CSVN, mà người ta từng nghe thấy trước đó qua dự án khai thác mỏ than Quảng Ninh và mới đây qua dự án khai thác bauxite (lẫn uranium) ở Lâm Đồng. Lối khẳng định chắc nịch và lời đoan hứa mạnh bạo kiểu ấy đã và đang sinh ra hậu quả nào cho nhân dân và đất nước thì ai cũng thấy rõ.

Tất cả các thái độ đó của nhà cầm quyền trung ương lẫn địa phương CSVN ngoài ra còn cho thấy một vấn đề đáng lo ngại. Đó là tình trạng “quân hồi vô lệnh”, “lãnh chúa cát cứ” đối với bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc.



Dưới không dám phê bình trên, để cho trên muốn làm gì mặc ý thì trên cũng thả lỏng cho dưới tha hồ đem tài sản của toàn dân ra “đổi trao bán chác” để kiếm miếng lợi về mình. Ai chịu trách nhiệm ở đây và nhân dân – chủ nhân ông của đất nước – sẽ truy cứu hình sự đối với những kẻ nào?



Ngày xưa chính quyền trung ương luôn luôn quan tâm đến chính sách “ky my” (trói buộc) để các vị đầu lĩnh nơi biên ải triệt để phục tùng, không thể làm hao tổn một tấc đất nào của Tổ quốc. Nay thì “ky my” xem ra lại là một sự đổi trao ngầm: anh để cho tôi làm mưa làm gió kiếm lợi ích riêng thì tôi cũng thả lỏng cho anh tự tung tự tác (theo Vũ Ngọc Tiến).

Cái đó tựu trung nằm trong chính quan niệm của Cộng sản về quyền lực và quyền lợi: toàn thể dàn lãnh đạo từ trung ương tới địa phương chỉ là một tập đoàn lợi ích cấu kết với nhau kiểu băng đảng mafia, nắm hết mọi cơ chế quyền lực trong tay để chia chác cho nhau mọi tài nguyên quyền lợi.



Chúng bất chấp công lao của tổ tiên, khốn khổ của đồng bào, tụt hậu của đất nước, nguy cơ của giống nòi. Từng nhượng biển nhượng hải đảo cho lân bang không chút e dè, nay chúng tiếp tục nhượng rừng nhượng khoáng sản là điều tự nhiên. Bởi lẽ đối với chúng, ghế quyền lực và gói quyền lợi là giá trị tối thượng trên đời.
tac gia : DN N

TẠI SAO HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC SẼ ĐỤNG ĐỘ ?

TẠI SAO HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC SẼ ĐỤNG ĐỘ ? by Áo Tră’ng 

  .Ðó là câu hỏi mà ký mục gia Gideon Rachman của tờ Financial Times đưa ra khi nhận xét về việc Google quyết định đối đầu với Bắc Kinh và nói là sẽ sẵn sàng rút lui nếu chính quyền không chịu giảm thiểu việc kiểm duyệt. Ông Rachman không lạ gì với Á Châu. Trước khi tham gia làm ký mục gia cho tờ Financial Times, ông đã từng là phóng viên thường trú của tờ The Economist ở Bangkok . Hơn thế, sau đó ông về làm chủ biên Á Châu của tờ tạp chí kinh tế nổi tiếng của Anh Quốc này. Ông cũng từng là phóng viên thường trú của tờ The Economist tạiWashington và Brussels . Là một người hiểu rõ cả Ðông lẫn Tây, cả Âu lẫn Á, cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc, những nhận xét của ông đáng để chúng ta chú ý. Theo ông, cuộc đụng độ giữa Google và Trung Quốc không phải chỉ là về số phận của một công ty, dầu cho đó là một công ty vô cùng hùng mạnh. Việc công ty quyết định rút ra khỏi Trung Quốc, trừ phi chính phủ thay đổi chính sách về kiểm duyệt, là dấu hiệu cho sự việc là liên hệ Mỹ-Trung sẽ ngày càng đi vào cơn sóng gió. Theo ông, vụ này còn đáng chú ý hơn nữa vì nó cho thấy những giả định trên đó tất cả chính sách Hoa Kỳ đối với Trung Quốc được đặt nền tảng kể từ sau cuộc thảm sát Thiên An Môn năm 1989 là đã hoàn toàn sai. Hoa Kỳ đã chấp nhận, và ngay cả chào đón, sự hình thành của một Trung Quốc như là một cường quốc kinh tế bởi vì các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ tin là cởi mở kinh tế rồi sẽ dẫn đến cởi mở chính trị tại Trung Quốc. Nếu định đề đó thay đổi, chính sách của Hoa Kỳ với Trung Quốc cũng sẽ phải thay đổi. Chào đón một cường quốc đang lên tại Á Châu mà rồi sẽ trở thành một nền dân chủ tự do là một điều có thể chấp nhận được. Bảo trợ cho sự lớn mạnh của một chế độ Leninist độc đảng, mà có thể trở thành đối thủ địa lý chính trị duy nhất của Hoa Kỳ, lại là điều khác hẳn. Kết hợp việc này với sự thất vọng chính trị của một nền kinh tế đang chịu thất nghiệp đến hai con số vốn hiện đang đổ cho là vì chính sách dìm giá tiền tệ của Trung Quốc thì chúng ta rõ ràng có một công thức cho một phong trào bài Trung Quốc. Cả hai tổng thống Bill Clinton và George Bush đều tin tưởng là mậu dịch tự do, đặc biệt trong thời đại Internet, sẽ làm cho Trung Quốc đương nhiên có thay đổi chính trị. Khi đến thăm Trung Quốc năm 1998, ông Clinton tuyên bố “Trong thời đại tin học, khi thành công kinh tế dựa trên tư tưởng, tự do cá nhân là điều căn bản cho sự vĩ đại của bất cứ một quốc gia nào.” Một năm sau, ông Bush cũng đưa ra cùng một luận điệu “Tự do kinh tế tạo thói quen tự do. Và thói quen tự do tạo trông đợi dân chủ… Buôn bán tự do với Trung Quốc thì rồi thời gian sẽ thuộc về chúng ta.” Ngay cả các cố vấn của hai vị tổng thống cũng nghĩ vậy. Ông Robert Wright, một trong những nhà tư tưởng được ông Clinton rất mê, đã lý luận là nếu Trung Quốc ngăn chặn tự do tiếp cận Internet, “cái giá phải trả sẽ là thất bại kinh tế thảm hại”. Nhưng cho đến nay thực tế cho thấy sự tin tưởng đó là không tưởng. Trung Quốc tiếp tục kiểm duyệt cả truyền thông cũ lẫn mới, và mặc dầu vậy họ nào có bị “thảm bại kinh tế” đâu. Ngược lại, Trung Quốc nay là nền kinh tế lớn thứ nhì trên thế giới và là quốc gia xuất cảng lớn nhất thế giới, với một dự trữ ngoại tên lên đến trên 2,000 tỷ đô la. Nhưng tất cả những sự tăng trưởng kinh tế này không cho thấy có dấu hiệu gì thúc đẩy thay đổi chính trị mà ông Bush và ông Clinton trông đợi. Ngược lại, chính phủ Bắc Kinh còn có vẻ siết chặt hơn nữa. Ngoài những vụ đàn áp các nhà dân chủ như vụ bỏ tù 11 năm ông Lưu Hiểu Ba, người mà tội duy nhất là tìm cách phổ biến một hiến chương kêu gọi dân chủ đa nguyên, Bắc Kinh đã ngang nhiên lập một bức tường lửa “vạn lý trường thành” để bao vậy dân chúng của họ ra khỏi mạng Internet toàn cầu.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.